Trang chủ » Chuyện đông-tây » Góp ý xây dựng hiến pháp

Góp ý xây dựng hiến pháp

Trong khi quốc hội đang lấy ý kiến toàn dân về sửa đổi hiến pháp 1992 thì cũng đồng thời đảng cộng sản Việt Nam và nhà nước cho các bình luận viên,các tờ báo viết theo định hướng  tung ra những đòn đe dọa không được đụng đến điều IV (về sự lảnh đạo độc quyền của đảng CS Việt Nam ) Thế thì còn gì nữa để góp ý xây dựng hiến pháp ? Mình nghĩ chẳng cần phải làm mất thời gian và trí tuệ của nhân dân làm gì.Nói đi nói lại,nói ngược nói xuôi thì cuối cùng cũng chỉ là để bảo vệ sự độc tôn của đảng cộng sản Việt Nam mà thôi.Hy vọng gì đằng sau cái trò toàn dân góp ý xây dựng Hiến pháp này.? Than ôi !
Xin giới thiệu bài viết phản biện của nhà thơ Trần Mạnh Hảo và bài của ông Tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương :

Tổng thư ký Hội Đồng Lý Luận Trung Ương PGS. TS. Nguyễn Viết Thông chưa hề đọc Mác

“Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất” – (K.Marx- F.Engels)
Trên báo “ Nhân Dân online” ngày 20/ 02/2013 có in bài của ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung ương có tên: “Tính hợp lý của Ðiều 4 trong Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi)Chúng tôi (Trần Mạnh Hảo) xin phép được trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Viết Thông – Tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương trên tinh thần của khoa học lý luận, để đảm bảo tính logic của vấn đề ông đặt ra; tuyệt nhiên không muốn và không dám “tranh luận” với hệ thống còng số tám đang lăm le tinh thần học phiệt trong món khoa học mang tính tùy tiện của một kẻ quy chụp, đầy chất công an trong câu văn đầu tiên của nhà lý luận số một của đảng cộng sản Việt Nam là ông PGS. TS. Nguyễn Viết Thông như sau :

“Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn kích động đòi chúng ta bỏ Ðiều 4 trong Hiến pháp, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”

Khi Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam (hai khái niệm này là một) đang kêu gọi nhân dân góp ý cho việc sửa đổi bản hiếp pháp 1992 với chủ trương không hề có sự cấp đoán hay trù dập đe dọa nào, nghĩa là tự do gấp triệu lần món tự do của tư bản; vậy mà ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông lại đe dọa, quy chụp những ý kiến trái chiều vào cái rọ của điều 88 (hai còng số tám) là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH thì hóa ra, chính ngài Tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương đang chống lại chủ trương dân chủ hóa xã hội của đảng cộng sản Việt Nam hay sao?

Xin ông PGS.TS. Nguyễn Viết Thông đọc một đoạn văn ngắn này để xem CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH là những “tên“ nào:

Đại diện những người ký tên “Bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992″ trao Kiến nghị cho Ủy ban sửa đổi Hiến pháp

Hồi 10h sáng thứ Hai 4-2-2013, một phái đoàn gồm 15 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban.

Thành phần Đoàn đại diện gồm: Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất); Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn); Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM; Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An; Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội; Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế.

Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin.

Tiếp Đoàn có ông Lê Minh Thông, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Ban Biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 và một số cán bộ trong Văn phòng Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.”

Nguồn: http://anhbasam.wordpress.com/2013/02/05/1594-trao-ban-kien-nghi-ve-sua-doi-hien-phap-1994/#more-92106

Chẳng lẽ các nhân sĩ trí thức lớn vào hàng bậc nhất Việt Nam được kể tên trên đây (hầu hết họ đều là đảng viên lâu năm của đảng cộng sản Việt Nam hoặc là những cán bộ cao cấp, hoặc từng là Ủy viện trung ương đảng) đều là “bọn” như ông Nguyễn Viết Thông gọi tên là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH bất cứ lúc nào cũng có thể bị bắt hay sao? Đấy là chưa kể những nhân vật nổi tiếng hàng đầu Việt Nam như nhà toán học bác học Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, GS. Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Hạnh, GS TS, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, nguyên Phó Ban Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, TP HCM, hoặc các vị tướng tá của Quân Đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Thị Ngọc Toản, giáo sư bác sĩ, Đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội, Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Anh, Hà Nội…cùng với 4.559 người ( tính đến 20-02-2013) ký tên vào bản sửa đổi hiếp pháp yêu cầu bỏ điều 04 bất hợp lý của hiến pháp 1992… Chẳng lẽ mấy nghìn người này đều là “ bọn” người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH như PGS. TS. Nguyễn Viết Thông quy chụp và chỉ điểm hay sao?

Theo logic còng số tám (điều 88) của ông Tổng thư ký hội đồng lý luận Trung ương kể trên thì việc ông Lê Minh Thông, Phó chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của Quốc Hội , phó ban biên tập dự thảo sửa đổi, bổ sung hiếp pháp 1992 cũng là người của CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH vì ông này dám tiếp “bọn” yêu cầu bỏ điều 04 trong hiếp pháp, tức “bọn” CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ở chính văn phòng quốc hội ư?

Trong bài viết của chúng tôi (TMH) in trên internet: “Chuyện thật như đùa về một nền chính trị ngược đời”, có đoạn như sau:

“Cách đây mười mấy năm trước, mỗi lần các ông Bí thư thành uỷ Đảng cộng sản TP. Hồ Chí Minh từ Võ Văn Kiệt, Võ Trần Chí, Nguyễn Văn Linh, (hoặc gần đây với ông Nguyễn Minh Triết…) gặp gỡ một số nhà văn sống tại TP. HCM, lần nào, kẻ viết bài này cũng xin được phép hỏi các vị lãnh đạo đảng một số câu hỏi mà tự mình không giải đáp được; chúng tôi thưa với các vị rằng: thưa đồng chí Bí thư thành uỷ kính mến, có cả trăm câu hỏi cứ dày vò trí não tôi, khiến tôi dễ trở thành tên phản động nếu không có ai hay cấp trên “gỡ rối tơ lòng” dùm, vậy xin được hỏi các vị lãnh đạo mấy câu hỏi sau:

1- Từ khi còn học phổ thông, chúng tôi đã được học thuộc lòng câu kinh “biện chứng pháp Mac-xit” như sau: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất”. Thưa điều này, dưới chế độ ta, liệu có còn đúng không? Vì có một “sự vật” to bằng trời là nền chính trị của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không nằm trong quy luật này của Marx vì nó cấm đối lập chính trị?”

Khi có dịp tiếp xúc các ông bí thư thành ủy Sài Gòn trước kia, tôi đều hỏi câu trên, nhưng các ông nói để các ông hỏi lại trung ương, nhưng rồi vẫn chìm vào im lặng. Nay chúng tôi xin hỏi PGS. TS. Nguyễn Viết Thông, tổng thư ký Hội đồng lý luận trung ương xem cái sự vật có tên là NỀN CHÍNH TRỊ CẤM ĐỐI LẬP CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM có nằm trong nguyên lý căn bản của phép biện chứng Mác-xít: “Mọi sự vật đều được cấu thành bởi các mặt đối lập thống nhất” hay không?

Cái thói cho mọi ý kiến trái chiều, trái với mình (tức là ý kiến đối lập) đều phải bị triệt tiêu, tiêu diệt, rằng đó là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH phải nằm trong tầm ngắm của điều luật 88 (hai còng số 8) mang tội danh “ TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” không chỉ của PGS. TS. Nguyễn Viết Thông mà chính là quan điểm chính thống của đảng cộng sản Việt Nam đều là những ngụy tín những quy định, những chụp mũ HOÀN TOÀN CHỐNG LẠI PHÉP BIỆN CHỨNG MÁC-XÍT. Marx xuất hiện bao giờ cũng trên tinh thần PHÊ PHÁN của một nhà khoa học. Cấm mọi người phê phán mình, Đảng Cộng sản Việt Nam coi như đã cấm đoán và bỏ tù tinh thần phê phán Mác –xít.

Thật nực cười. một vị tổng thư ký Hội đồng lý luận Trung Ương như PGS. TS. Nguyễn Viết Thông lại chưa hề đọc và học về phép biện chứng Mác Xít, chưa hề được học môn logic học (luận lý học) nên các quan điểm trong bài bài viết này của ông đều giả dối và duy tâm tuyệt đối. Linh hồn của phép biện chứng Mác-xít (lấy từ biện chứng pháp Hegel) là nhịp hai: ĐỐI LẬP (nhịp một: Xuất đề – nhịp hai: PHẢN ĐỀ ( tức đối lập), nhịp ba: tổng hợp đề… từ đây lại sinh ra một xuất đề khác… cứ thế căn đuôi cá nhau đi mãi …)

Nhân danh chủ nghĩa Marx để phản Marx –Engels chính là những quan điểm phi khoa học (gọi là quan điểm phản động) trong hầu như toàn bộ bài viết kể trên của PGS. TS. Nguyễn Viết Thông trên tờ “ Nhân Dân online” ngày 20-02-2013 vậy.

Vì ông tổng thư ký hội đồng lý luận trung ương của một đảng cộng sản tự xưng là theo chủ nghĩa Marx nhưng chưa hề đọc Marx, chúng tôi đành phải nói qua với ông Thông (PGS.TS. Nguyễn Viết Thông) về tinh thần tự do trong tranh biện của Marx.

Marx có nhiều sai lầm quan trọng như thái độ tuyệt đối hóa trước các sự vật trong một thế giới tương đối; ví như ông nhận thức giai cấp tư bản là tuyệt đối xấu và giai cấp vô sản tuyệt đối tốt, rằng thuyết THẶNG DƯ của ông là sai về kinh tế học, định nghĩa lịch sử loài người là lịch sử của cái ác (… là lịch sử đấu tranh giai cấp) là sai; ví như học thuyết xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất và công cụ sản xuất, tuyệt đối hóa công hữu là tốt và tư hữu là xấu là những cái sai căn bản của Marx; ví như mô hình của thế giới cộng sản đại đồng Marx vẽ ra là hoàn toàn duy tâm, hoang tưởng…

Nhưng tinh thần khoa học trong tư duy lý luận của Marx chống lại độc tài, độc đoán trong tranh biện, chống lại bọn học phiệt, chống lại những kẻ muốn bóp chết nền tự do báo chí của Marx cần phải được học tập. Marx qua các bài báo đấu tranh cho tự do dân chủ, luôn luôn lấy tiêu chí của Voltaire làm trọng: “Tôi có thể không đồng ý với quan niệm của anh nhưng tôi sẽ chiến đấu cho tới chết để anh được quyền nói lên chính kiến của mình”…

Xóa bỏ, bắt bớ những người có ý kiến trái chiều như đảng cộng sản Việt Nam đang làm khác gì các ông đang kết án Marx?

Marx từng khẳng định không có tự do báo chí tư sản thì không có chủ nghĩa Marx. Vậy mà nhà nước của đảng cộng sản Việt Nam tự xưng là đầy tớ của nhân dân lại sở hữu 700 tời báo, trong khi nhân dân là ông chủ thì tuyệt nhiên bị cấm ra báo, cấm lập hội lập đảng; thế mà ông Thông và các ông dám bảo dân ta tự do lắm, hạnh phúc lắm, được sống trong một xã hội “DÂN CHỦ CÔNG BẰNG VĂN MINH” lắm lắm thì sự nói ngược của các ông cần phải được ghi vào kỷ lục guiness thế giới…

Thưa ông PGS. TS. Nguyễn Viết Thông, khi ông đẩy những người có ý kiến đối lập vào với cái gọi là CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH tức “bọn” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA… như bài viết trên của mình, thì ông và các ông cầm quyền hiện nay đang chống Marx và đang truy nã tinh thần tự do dân chủ mà Marx quảng bá trên 200 năm trước đấy. Hẹn có dịp, chúng tôi sẽ lại được trao đổi với NHÀ KHOA HỌC phi logic và phi Mác-xít Nguyễn Viết Thông.,.

Sài Gòn ngày 20-02-2013
Trần Mạnh Hảo

Tính hợp lý của Ðiều 4 trong Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi)
Cập nhật lúc 01:27, Thứ tư, 20/02/2013 (GMT+7)
Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn kích động đòi chúng ta bỏ Ðiều 4 trong Hiến pháp, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Từ khi các phương tiện thông tin đại chúng của nước ta đăng toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để lấy ý kiến toàn dân, có một số ý kiến đề nghị bỏ Ðiều 4 hoặc thay bằng quy định chung về các đảng chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng.Ðể làm rõ những bổ sung, phát triển Ðiều 4 trong Dự thảo Hiến pháp năm 1992, chúng tôi xin nêu một số ý kiến về những vấn đề nêu trên.1. Quy định về đảng chính trị trong hiến pháp mang tính phổ biến

Chúng ta đều biết, ngày nay, đảng chính trị đã trở thành hiện tượng phổ biến trên thế giới, có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu trong quá trình chính trị và đời sống chính trị của hầu hết các nước. Nước nào cũng có đảng phái chính trị.

Hiến pháp của nhiều nước có những quy định về đảng chính trị. Chẳng hạn, Hiến pháp của U-dơ-bê-ki-xtan có 3 điều, Hiến pháp của các nước Thổ Nhĩ Kỳ, U-crai-na, Ba Lan có 2 điều, Hiến pháp của các nước Thụy Sĩ, Cộng hòa Liên bang Ðức, Trung Quốc, Hàn Quốc, v.v… có một điều quy định về đảng chính trị.

Hiến pháp của một số nước khẳng định việc thành lập các đảng chính trị là điều hết sức cần thiết để góp phần hình thành nên ý kiến, nguyện vọng, ý thức, ý chí chính trị của nhân dân. Chẳng hạn, Ðiều 137, Hiến pháp Thụy Sĩ quy định: “Các đảng chính trị đóng góp vào việc hình thành ý kiến và nguyện vọng của nhân dân”. Ðiều 8, Hiến pháp Hàn Quốc quy định: “Các chính đảng phải bảo đảm tính dân chủ trong mục tiêu, tổ chức và hoạt động và phải có cách thức tổ chức cần thiết để người dân có thể tham gia vào quá trình hình thành nên ý chí chính trị”. Ðiều 21, Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Ðức quy định: “Các đảng chính trị tham gia vào việc hình thành ý thức chính trị của nhân dân”, v.v…

Khi đề cập đến các đảng chính trị, hiến pháp các nước cũng xác định nguyên tắc, cách thức thành lập; cách thức tổ chức của đảng; nguyên tắc hoạt động của các đảng chính trị. Chẳng hạn, Ðiều 5, Hiến pháp Trung Quốc quy định: “Tất cả các cơ quan nhà nước và lực lượng vũ trang, các đảng phái chính trị và đoàn thể xã hội; các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đều phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi của mọi tổ chức hoặc cá nhân đều không được vượt quá quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Ðiều 3, Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quy định: “Các quyền của những người đa sắc tộc là người đứng đầu đất nước được thực hiện và bảo đảm thông qua các chức năng của hệ thống chính trị cùng với Ðảng Nhân dân Cách mạng Lào như là hạt nhân hàng đầu của mình”.

Hiến pháp Việt Nam năm 1980, năm 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có một điều quy định về Ðảng là phù hợp, thể hiện xu hướng phổ biến của thế giới.

2. Chế độ một đảng hay nhiều đảng do thực tiễn của mỗi nước, do đặc điểm từng giai đoạn quy định

Hiện nay, số lượng đảng chính trị ở mỗi nước rất đa dạng, tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa và đặc điểm xã hội của mỗi nước. Một số nước có nhiều đảng chính trị, Hoa Kỳ có 112 đảng, Anh có 97 đảng, Tây Ban Nha có 87 đảng, Pháp có 76 đảng,… Nhưng nhiều nước khác lại chỉ có một đảng chính trị, như: Cu-ba, Lào, Triều Tiên, Ăng-ti-goa, A-rập Xê-út, Ba-ren, Bê-li-xê, Bô-xni-a, Bốt-xoa-na, Bê-nanh, Phi-gi, Găm-bi-a, Ê-ri-tơ-ri-a, Gha-na, Ghi-nê, Ha-i-ti, Cốt Ði-voa, Li-bi, Cư-rơ-gư-xtan, Ma-đa-ga-ca, Mô-na-cô, Tát-gi-ki-xtan, v.v…

Ai cũng biết rằng, số lượng các đảng chính trị hoàn toàn không phải là thước đo chế độ dân chủ, tự do ở từng nước. Ở Hoa Kỳ có 112 đảng, nhưng chỉ có hai đảng Cộng hòa và Dân chủ thay nhau cầm quyền. Xin-ga-po có nhiều đảng, nhưng chỉ có Ðảng Nhân dân hành động Xin-ga-po cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Ðảng Cộng sản Trung Quốc còn có tám đảng dân chủ. Tám đảng này đều thừa nhận Ðảng Cộng sản Trung Quốc là đảng duy nhất lãnh đạo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời, không tranh giành quyền lãnh đạo với ai. Trong hơn 80 năm qua, ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Ðảng Cộng sản còn có sự tồn tại của hai đảng đối lập (Việt Nam Quốc dân Ðảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội); khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng cuốn gói chạy theo. Có thời kỳ ngoài Ðảng Cộng sản Việt Nam, còn tồn tại Ðảng Dân chủ Việt Nam, Ðảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Ðảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò độc quyền lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước.

Nhân dân Việt Nam đã thừa nhận Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Ðảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân che chở, xây dựng. Nhân dân Việt Nam trìu mến gọi Ðảng Cộng sản Việt Nam là “Ðảng ta”. Bài học từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Ðông Âu còn nguyên giá trị. Từ khi chấp nhận bỏ Ðiều 6, Hiến pháp Liên Xô, đã dẫn đến tình trạng xuất hiện đa đảng và hậu quả là Ðảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ. Các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận thức rõ hơn ai hết, nếu chấp nhận đa đảng, chế độ XHCN sẽ sụp đổ, đất nước sẽ rối loạn, đời sống nhân dân cả vật chất và tinh thần rơi vào tay các thế lực không trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc ta.

3. Vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trong thực tiễn cách mạng

Vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tế kiểm nghiệm, nhất là vào những bước ngoặt của lịch sử.

Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng duy nhất lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc, đưa sự nghiệp đó đến thắng lợi hoàn toàn.

Ðảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công sự nghiệp phát triển đất nước sau ngày 30-4-1975.

Khi chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào khủng hoảng, các đảng cộng sản ở Liên Xô và Ðông Âu đã tiến hành cải tổ, cải cách nhưng không thành công; bị đổ vỡ do đánh mất vai trò lãnh đạo của mình. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội vào những năm 80 của thế kỷ 20, đưa đất nước vững bước trên con đường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ 21 trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

“Ðảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên CNXH với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn nhiều.

Trong lãnh đạo, Ðảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Ðảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên” (1).

4. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã sửa đổi, bổ sung các quy định đúng đắn, hợp lý về Ðảng

Ðiều 4 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác – Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ðảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Các tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.

Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1980, Ðiều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Ðảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Kế thừa và phát triển bản Hiến pháp năm 1992, Ðiều 4, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 quy định:

“1. Ðảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

2. Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

3. Các tổ chức của Ðảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

So với Hiến pháp năm 1992, quy định về Ðảng trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có ba bổ sung, phát triển quan trọng.

Một là, khẳng định Ðảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mà đồng thời còn là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Bởi lẽ, Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Ðây là nét sáng tạo đột phá phù hợp với đặc điểm Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên thực tế, Ðảng ta ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích không chỉ của giai cấp công nhân mà còn vì lợi ích của nhân dân lao động, của toàn dân tộc. Ðảng ta không có lợi ích tự thân.

Hai là, bổ sung quy định: “Ðảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Sự bổ sung này quy định bản chất, trách nhiệm của Ðảng đối với nhân dân.

Ba là, khẳng định không chỉ các tổ chức của Ðảng mà còn quy định thêm về việc tuân thủ, thi hành Hiến pháp và pháp luật đối với mọi đảng viên. Ðảng viên phải tự giác, gương mẫu, thực hiện, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.

Những bổ sung, phát triển trên càng cần thiết khi hiện nay, bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Ðảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Ðảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Ðảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một là, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Hai là, đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng, nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản.

Ba là, nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Ðảng đã xác định: “Ðể tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng Ðảng trong thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt tám nhiệm vụ trong công tác xây dựng Ðảng mà Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả, đồng thời tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách sau đây:

Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Ðảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Ðảng.

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng.

Trong ba vấn đề trên, vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách

nhất” (2).

Như vậy việc bổ sung, phát triển Ðiều 4 trong Hiến pháp là hoàn toàn đúng đắn.

PGS, TS NGUYỄN VIẾT THÔNG

Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương

(1) Ðảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011, tr.63-64.

(2) Ðảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, Nxb CTQG, HN, 2012, tr.25-26.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s